Nghị định 144/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 06/5/2026 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng. Văn bản này có hiệu lực từ ngày 20/6/2026 và tác động trực tiếp đến công tác xác định đối tượng không chịu thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào và quản lý chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt tại doanh nghiệp.
Atax nhận thấy các thay đổi tại Nghị định 144/2026/NĐ-CP có ý nghĩa thực tiễn lớn đối với bộ phận kế toán, đặc biệt tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, xuất khẩu tài nguyên khoáng sản và các đơn vị có phát sinh giao dịch mua hàng trả chậm, trả góp. Việc cập nhật kịp thời quy định mới giúp doanh nghiệp hạn chế sai sót khi kê khai thuế GTGT, hạch toán chi phí và lập hồ sơ thuế.
Bổ sung và làm rõ đối tượng không chịu thuế GTGT
Nghị định 144/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, trong đó quy định rõ một số dịch vụ bảo hiểm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Các nhóm dịch vụ được đề cập gồm:
-
Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học và các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người.
-
Bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng và các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác.
-
Bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và dụng cụ cần thiết phục vụ trực tiếp hoạt động đánh bắt thủy sản.
-
Tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
-
Bảo hiểm công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn theo thỏa thuận khai thác chung.
Việc bổ sung cụ thể nhóm dịch vụ bảo hiểm không chịu thuế GTGT giúp doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm và kế toán xác định đúng bản chất giao dịch, từ đó lập hóa đơn, kê khai và hạch toán phù hợp.
Bên cạnh đó, Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về dịch vụ tài chính, ngân hàng, chứng khoán, thương mại. Theo nội dung sửa đổi tại điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, hoạt động bán nợ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, bao gồm bán khoản phải trả, bán khoản phải thu và bán chứng chỉ tiền gửi.
Quy định này cần được các tổ chức tín dụng, công ty mua bán nợ và doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng khoản phải thu, khoản phải trả lưu ý khi xác định nghĩa vụ thuế GTGT đầu ra.
Đối với hoạt động xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản, Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 14 Điều 4 theo hướng sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác theo định hướng của Nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo danh mục ban hành kèm theo Nghị định.
Trường hợp cần điều chỉnh danh mục để phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội và định hướng quản lý từng thời kỳ, Bộ Công Thương xác định, đề xuất điều chỉnh gửi Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.
Sửa đổi nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Một nội dung quan trọng của Nghị định 144/2026/NĐ-CP là sửa đổi điểm a và bổ sung điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP về nguyên tắc phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Đối với hàng hóa, bao gồm cả tài sản cố định, và dịch vụ sử dụng đồng thời cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT, doanh nghiệp chỉ được khấu trừ phần thuế GTGT đầu vào tương ứng với hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động chịu thuế GTGT.
Về nguyên tắc thực hiện, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ. Trường hợp không hạch toán riêng được, số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ tính thuế.
Theo quy định sửa đổi, tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra dùng để phân bổ thuế GTGT đầu vào bao gồm:
-
Doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
-
Doanh thu hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT.
-
Giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý, trừ trường hợp giá trị gia tăng âm.
-
Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, nếu có.
Đối với một số lĩnh vực đặc thù, doanh thu làm căn cứ phân bổ được xác định theo pháp luật chuyên ngành. Cụ thể, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài xác định doanh thu theo pháp luật về các tổ chức tín dụng; hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán xác định theo pháp luật về chứng khoán; hoạt động kinh doanh bảo hiểm xác định theo pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng bổ sung điểm c khoản 2 Điều 23, quy định doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT, nếu có, theo khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15.
Atax lưu ý rằng quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ phân bổ thuế GTGT đầu vào. Doanh nghiệp có nhiều nhóm doanh thu cần rà soát lại cách phân loại doanh thu trên phần mềm kế toán, sổ chi tiết và tờ khai thuế để bảo đảm dữ liệu phân bổ thống nhất.
Quy định mới về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp.
Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ trả chậm, trả góp để thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, doanh nghiệp vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Tuy nhiên, đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, nếu không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán hợp lệ.
Việc điều chỉnh giảm được thực hiện vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Sau khi đã điều chỉnh giảm, nếu doanh nghiệp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì được kê khai, khấu trừ lại số thuế GTGT đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh chứng từ.
Quy định này yêu cầu kế toán phải theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán trên hợp đồng, phụ lục hợp đồng và chứng từ ngân hàng. Nếu không kiểm soát tốt, doanh nghiệp có thể phát sinh rủi ro bị điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào trong kỳ thanh toán.
Lưu ý nghiệp vụ kế toán khi áp dụng từ ngày 20/6/2026
Để áp dụng đúng Nghị định 144/2026/NĐ-CP, Atax khuyến nghị doanh nghiệp thực hiện một số công việc sau:
-
Rà soát toàn bộ danh mục hàng hóa, dịch vụ đang kinh doanh để xác định đúng nhóm chịu thuế GTGT, không chịu thuế GTGT và không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
-
Cập nhật chính sách thuế đối với các lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, mua bán nợ và xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản.
-
Thiết lập phương pháp hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ ngay từ khâu ghi nhận chứng từ.
-
Rà soát công thức phân bổ thuế GTGT đầu vào đối với doanh nghiệp có đồng thời doanh thu chịu thuế và không chịu thuế GTGT.
-
Theo dõi riêng các giao dịch mua trả chậm, trả góp từ 05 triệu đồng trở lên để kiểm soát chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đúng thời hạn.
-
Đối chiếu số liệu giữa hợp đồng, hóa đơn, chứng từ ngân hàng, sổ kế toán và tờ khai thuế GTGT trước khi nộp hồ sơ khai thuế.
-
Cập nhật phần mềm kế toán, quy trình kiểm soát nội bộ và hướng dẫn nghiệp vụ cho bộ phận kế toán, mua hàng, tài chính.
Kết luận
Nghị định 144/2026/NĐ-CP là văn bản quan trọng trong quá trình hoàn thiện chính sách thuế GTGT, đặc biệt ở các nội dung về đối tượng không chịu thuế, nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào và điều kiện chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến việc kê khai thuế mà còn liên quan trực tiếp đến hạch toán kế toán, quản trị chứng từ và kiểm soát rủi ro thuế của doanh nghiệp.
Atax khuyến nghị doanh nghiệp chủ động rà soát hồ sơ, cập nhật quy trình kế toán thuế và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành trước khi áp dụng. Trường hợp doanh nghiệp có giao dịch phức tạp hoặc phát sinh nhiều nhóm doanh thu khác nhau, việc tham vấn ý kiến chuyên môn từ đại lý thuế sẽ giúp hạn chế sai sót và bảo đảm tuân thủ đúng quy định.
Xem thêm 4 phương pháp nộp thuế GTGT và TNDN của doanh nghiệp siêu nhỏ theo Thông tư 58

